VÀI Ý KIẾN VỀ HỒ XUÂN HƯƠNG: Hãy trả Hương về với mùa Xuân



Lâu nay tôi muốn góp thêm một suy tư, một phần nào nhận thức cá biệt của mình đối với một nữ thi sĩ nổi tiếng trong văn học sử, được truyền tụng vì những bài thơ rất đặc biệt khác thường của bà. Đó là thi sĩ Hồ Xuân Hương,
Đến nay, tiểu sử của bà vẫn chưa được xác định rõ, thân thế vẫn còn mịt mờ vì chưa có một tài liệu nào đích xác chứng thực về cuộc đời và thơ văn của bà _Chúng chỉ được sao chép, truyền tụng trong nhân gian như những giai thoại rất dí dỏm, lý thú về một người đàn bà khác thường, cùng với những bài thơ kỳ lạ, ỡm ờ, tinh quái.
Các nhà nghiên cứu đoán, bà là con gái Hồ Phi Diễn, một ông đồ nghèo bỏ quê nhà là Nghệ An, (làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu) ra dạy học ở Hải Dương. Khi trưởng thành, có thời gian bà sống ở Hà Nội, dựng ngôi nhà tranh rất nổi tiếng, đặt tên là Cổ Nguyệt đình, ngoảnh mặt ra Hồ Tây. Đây là nơi bà thường ngồi đọc sách, làm thơ, dạy học trò và xướng ngâm với các bạn bè tao nhân mặc khách. Hai chữ Hán: Cổ và Nguyệt ghép lại thành chữ Hồ, có nghĩa là cái nhà của cô gái họ Hồ. Vì trong dân gian có truyền tụng vài bài thơ cho là của bà xướng họa với Chiêu Hổ, nên họ cũng đoán rằng, bà sống đồng thời với Chiêu Hổ (1768 -1839) khoảng vào cuối đời Lê, qua Tây Sơn tới đầu nhà Nguyễn. Qua tập Lưu Hương ký mới đây được phát hiện công bố năm 1963, là văn bản duy nhất đề tên tác giả là Hồ Xuân Hương, người ta tìm thấy có một bài thơ gởi cho văn hào Nguyễn Du(1766-1820) nên biết được bà cũng có giao tình với văn hào nầy. Rất tiếc bản chính này, sau đó cũng thất lạc vì chiến tranh, chỉ còn những bài thơ được sao chép lại.
Thời đại của bà, hầu hết các văn bản lưu truyền được chép bằng tay, sao đi chép lại nhiều lần, thật khó xác định bài nào là thật, bài nào là giả. Ngay cả tác phẩm nổi tiếng như Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du, cũng không tránh khỏi hiện tượng có nhiều bản sao khác nhau, hoặc bị mất mát, sửa đổi ít nhiều khi sao chép. Các bản diễn dịch Nôm từ tác phẩm nổi tiếng như Chinh phụ ngâm bằng Hán văn của Đặng Trần Côn, cũng chịu những số phận nghiệt ngã tương tự. Kẻ bảo bản dịch này của Đoàn thị Điểm, kẻ cho là của Phan Huy Ích. May mà con cháu của Phan Huy Ích (Phan Huy Chiêm) đã đứng ra bỏ công nhiều năm (1926) tranh luận trên văn đàn, báo chí, để dành lại tác quyền cho tổ phụ. Phan Huy Chiêm đã trưng ra được nhiều văn bản dữ kiện rất tín nhiệm, đó là bản dịch Nôm chính của tác phẩm Chinh Phụ Ngâm, cùng một bài thơ chữ Nho, chép trong gia phả của dòng họ Phan ở làng Thầy (Quốc Oai, Sơn Tây). Phan Huy Ích, tác giả của bài thơ này, làm đến chức Lễ bộ thượng thư, kiêm chương nhạc chính ty Thụy nham hầu thời Tây Sơn (Quang Trung 1788-1792), từng đi sứ sang Tàu, nổi tiếng về tài học thuật và đối ứng, từng được cùng xướng họa thơ với vua Càn Long. Trong bài thơ ấy của Phan Huy Ích (bài này được chép cả trong bộ Dụ am ngâm lục của Phan Huy Ích) ông có nhắc đến việc là: chính ông trong lúc rảnh rỗi, đã phiên dịch Chinh Phụ Ngâm của Đặng Trần Côn thành khúc mới, gọi là Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc. Các học giả và các nhà khảo cứu đương thời, sau nhiều năm tranh luận và xem xét các bằng chứng, mới khẳng định rằng: bản hay nhất đang lưu hành, đích thực của Phan Huy Ích.
Trường hợp của Xuân Hương, cũng vì thiếu bằng cớ và tài liệu chính xác để truy cứu, trong quá khứ, chắc không khỏi có nhiều người đã lợi dụng điểm này, để tha hồ bịa đặt, sáng tác bậy bạ, tục tĩu, bắt chước na ná lối làm thơ ỡm ờ hai nghĩa, viết điều này, nhưng ám chỉ việc khác của bà, gán cho thơ tồi này là của bà viết. Nếu kẻ hậu thế như chúng ta, cũng vì lý do không có tài liệu gì đích xác, để vin vào đó mà phủ nhận, mặc cho nhân thế nhắm mắt tin những bài thơ dâm dục này là của Xuân Hương thật, thì oan ức cho phẩm giá và tài năng của thi sĩ.
Chúng ta thử đọc vài bài tồi, trong số những bài rất nhảm nhí đã được nổi tiếng vì còn lưu truyền đến ngày nay nhờ ăn cắp tên tuổi của Xuân Hương như bài Đánh cờ người, hoặc bài vịnh Ông quan võ:

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc
Đốt đèn lên đánh cuộc cờ người
Hẹn rằng đấu trí mà chơi
Cấm ngoại thuỷ không ai được biết
Nào tướng sĩ dàn ra cho hết
Để đôi ta quyết liệt một phen
Quân thiếp trắng, quân chàng đen
Hai quân ấy chơi nhau đà đã lửa
Thọat mới vào chàng liền nhảy ngựa
Thiếp vội vàng vén phứa tịnh lên
Hai xe hà, chàng gác hai bên
Thiếp thấy bí, thiếp liền ghểnh sĩ
Chàng lừa thiếp đương khi bất ý
Đem tốt đầu dú dí vô cung,
Thiếp đang mắc nước xe lồng
Nước pháo đã nổ đùng ra chiếu
Chàng bảo chịu, thiếp rằng chẳng chịu
Thua thì thua quyết níu lấy con
Khi vui nước nước non non
Khi buồn lại giở bàn son quân ngà (Đánh cờ người)

_Bác mẹ sinh ra vốn chẳng hèn
Tối tuy không mắt, sáng hơn đèn
Đầu đội nón da loe chóp đỏ
Lưng đeo bị đạn rủ thao đen.... (Ông quan võ)

Hai bài này nham nhở sỗ sàng, gây cho người đọc một cảm giác khó chịu, vì cái lối tìm thỏa mãn khoái lạc hạ cấp, qua cách xử dụng văn thơ khiêu dâm không lành mạnh chỉ có thể là của loại người bình dân ít học, bị dồn nén ức chế tình dục lâu ngày, đâm ra khủng hoảng sinh lý trầm trọng, vì lý do đó, nên cái tính giống nam nữ và cái chuyện phòng the kia, luôn luôn ám ảnh, chiếm lĩnh hết cả đầu óc tâm hồn và tư tưởng, nhìn bất cứ đồ gì, vật cảnh gì, cũng mơ tưởng hình dung ra nó, đến nỗi phát tiết ra cả thơ văn.
Trong Quốc triều chánh biên, thời Gia Long, có đoạn chép về thói “sùng phụng dâm từ” của dân chúng, thấy ghi như sau:
_”Ngài (vua Gia Long) bàn việc chánh trị với các quan, nhơn nói đến chuyện dân gian hay sùng phụng dâm từ. Thống chế Hoàng Công Lý tâu rằng: ”dân trong kinh thành cũng hay tin chuộng đạo ngoài, thường thổi còi và đánh thanh la; xin ngài thần định luật điều nghiêm cấm”.
Có lẽ trong câu trên, vua tôi nhà Nguyễn đang bàn luận về văn chương lãng mạn, về đạo Thiên Chúa giáo và âm nhạc của người Pháp, đang bắt đầu theo thương thuyền và các giáo sĩ du nhập vào nước ta. Vua Gia Long và triều thần lúc ấy, đang có ý thảo luận sửa soạn viết những dự luật ngăn cấm những chuyện đó.
Trong sự sùng phụng ”dâm từ” đang bị chính quyền để ý tới, không biết có những bài thơ của bà không? Tình dục chỉ là lẽ thường của bản năng sinh sản của con người, nhưng loại thơ tiềm ẩn đề tài như vậy, do một phụ nữ viết vào thời điểm đó, là điều vô cùng kỳ lạ, chắc chắn sẽ gây nhiều dư luận ồn ào, những đả kích dữ dội to lớn. Vậy thì các văn sĩ, nhà mô phạm, và các bậc trí thức thời đó, có ai viết những bài thơ phản bác hay không? Sao chỉ có vài câu của Chiêu Hổ mà thôi?
Dân Việt ta thường phản ảnh tâm tình mộc mạc của họ qua ca dao, trong mấy ngàn câu tục ngữ ca dao, là loại văn chương bình dân truyền khẩu, chỉ thấy dân ta thuộc và nhắc nhở đến Truyện Kiều, thứ được gọi là văn chương bác học của người trí thức, mà chẳng tìm thấy một câu nào liên quan, nhắc nhở đến Xuân Hương, người được coi là hiện tương kỳ lạ của xã hội thời ấy. Dân ta tuy không có quyền lực, nhưng cái bia miệng của họ cũng ghê gớm lắm, nếu Xuân Hương mà lẳng lơ đĩ thõa, thì vài chục câu ca dao, thế nào cũng được sáng tác truyền khẩu để tặng cho bà.
Ngay đến đàn ông, như văn hào Nguyễn Du, là người được xem như sống cùng thời với bà, trong tác phẩm Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh), cũng chỉ dùng điển tích, hoặc mô tả bóng gió xa xôi, ẩn dụ kín đáo hoa mỹ, để nói về chuyện tình dục như: “ong bướm lả lơi, dập diù lá gió cành chim, mưa Sở mây Tần, trăng, hoa xưa ong cũ, ân ái chan chan, vành ái ân, chén quỳnh giao hoan…..”
Ông đã dùng từ ngữ thanh cao, điển cố nhã nhặn kín đáo, để diễn tả chuyển đạt đến người đọc, cái hình tượng ẩn dụ của chuyện tình dục, một nhu cầu tự nhiên tất có xưa nay của tình yêu và con người.

_Rõ ràng trong ngọc trắng ngà
Dầy dầy sẵn đúc một tòa thiên nhiên

Vẻ đẹp thân thể trần truồng trắng trẻo lúc Kiều tắm, được ông tế nhị và chắc đã cân nhắc rất kỹ rồi mới viết, so với thời đại chúng ta đang sống có phim ảnh, báo chí, internet.. đầy rẫy những hình ảnh nam nữ 100% khỏa thân, bị nhìn riết thấy quen đến mức trở nên bình thường_ thì ông đã tả quá sơ sài, nếu chỉ dựa vào nghĩa đen, chưa chắc đã hiểu ông miêu tả cái gì. Ấy vậy, mà đã một thời bị các cụ ta xưa, xem là sexy hết cỡ thợ mộc, liệt kê Truyện Kiều vào loại nguy hiểm cho sự giáo dục con cái nên cấm con cái không được đọc. Nhất là không được bắt chước Thúy Kiều, buổi tối lợi dụng lúc cha mẹ đi ăn tiệc ở đâu đó vắng nhà, hăm hở: “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình” đến chơi nhà chàng Kim Trọng; hoặc chưa hỏi ý kiến cha mẹ đã tự ý đính ước hôn nhân với chàng. Thế nên ca dao có câu:

_Đàn ông chớ kể Phan Trần
Đàn bà chớ kể Thúy Vân Thúy Kiều

Ở Úc thời nay, các bậc cha mẹ Việt Nam, đối với các con gái, dưới tuổi vị thành niên (cỡ tuổi của Thúy Kiều lúc chưa bán mình chuộc cha nên phải đi lang bạt kỳ hồ), dù đang ở thế kỷ thứ 21, cách niên đại của Hồ Xuân Hương hơn 200 năm, chắc chắn ai nấy cũng hết lòng trông nom, đưa đón, giữ gìn con gái. Sau khi tan trường hoặc dự party với bạn bè xong, thì chầu chực ngoài cổng, đón chúng ngay về nhà, không cho chúng có cơ hội đi lang thang, nhất là đến nhà bạn trai chơi một mình_thế nên, đối với cách xử xự khó khăn với con cái của các cụ, chúng ta cũng rất là thông cảm.
Đứng về diện tâm lý của người làm mẹ, nếu Xuân Hương có con, tất nhiên bà phải giữ tư cách của một người mẹ, phải có một mẫu mực, một tiêu chuẩn đạo đức tối thiểu nhất định nào đó, để khả dĩ còn có thể bảo ban giáo huấn con cái. Ai lại chẳng muốn bảo vệ danh dự, thể diện của mình và gia đình? chắc chẳng ai thích, có một người mẹ hoặc người thân, tối ngày dư thì giờ, cố ý tận dụng bản lĩnh văn tài, ra sức nặn óc, nắn nót tìm từ, viết thành những bài thơ hai nghĩa; nghĩa kia ẩn dụ, bóng gió đầy dục tính, ám chỉ đến những tác động phòng the, hoặc mô tả cái giống tính không mấy gì đẹp đẽ kia, mà văn hóa Tây- Ta nghìn năm xưa đến nay, đều cho là nên tế nhị, che đậy cất kỹ nó sau những lớp áo quần đẹp đẽ, cho dù chúng, không hơn không kém, chỉ là một bộ phận của cơ thể. Ấy vậy làm sao ta có thể tin rằng: một phụ nữ sống cách đây hơn 200 năm như Xuân Hương, trong một xã hội gò bó phong kiến, luôn bắt buộc người phụ nữ phải sống ép mình trong những tiêu chuẩn và luật lệ của gia tộc và xã hội, lại có can đảm, ngang nhiên phóng túng đi ngược lại văn hóa và thuần phong mỹ tục của xã hội?
Những thơ tồi tệ như thế, không nên gán cho Hồ Xuân Hương vì chúng trơ trẽn, khác biệt hẳn với phong cách trong sáng và khẩu khí thanh cao nhã nhặn phóng khoáng của bà, chúng ta thấy thể hiện qua bài thơ Mời trầu: đây là lời bà nhắn nhe rất khéo léo, lịch sự với bạn trai, chắc là chỗ quen biết nhau khá thân mới xưng tên như thế: “Em vẫn tiếp đãi chàng ân cần, chính tay em têm trầu mời chàng ăn đó nhé. Nếu thực lòng nghĩ đến duyên nhau, xin chàng nồng thắm lại (lá trầu xanh khi nhai chung với cau và vôi thì trở thành màu đỏ thắm, tượng trưng cho tình nồng ấm) Đừng xé lẻ phụ nhau, bạc bẽo như vôi, xanh như lá trầu khi để riêng rẽ, không có tình chung:

_Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi
Này của Xuân Hương đã quệt rồi
Có phải duyên nhau thì thắm lại
Đừng xanh như lá bạc như vôi

Hoặc bài vịnh bánh trôi nước, nghĩa ngầm nói tới thân phận bạc bẽo chìm nổi của phụ nữ, tuy trắng trẻo xinh đẹp nhưng không làm chủ được đời mình, phải tùy thuộc vào định mệnh, (rắn nát mặc dù tay kẻ nặn), nhưng vẫn cố giữ tấm lòng trinh bạch, sắt son:

_Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dù tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son

Tấm lòng son ở đây, nhắc ta đến thân phận phụ nữ và đường hôn nhân kém may mắn của bà, tương truyền rằng một người tài hoa như bà, phải làm vợ lẽ. Người ta đoán như vậy vì bài thơ:”Lấy chồng chung” được cho là của bà viết.

_Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng
Chém cha cái kiếp lấy chồng chung
Năm thì mười họa chăng hay chớ
Một tháng đôi lần có cũng không
Cố đấm ăn xôi, xôi lại hẩm
Cầm bằng làm mướn, mướn không công...

Dân gian có lưu truyền bài thơ Khóc Tổng Cóc (Cóc là tên cúng cơm xấu xí, cha mẹ gọi lúc ông còn bé để ma quỉ khỏi quấy phá. Tên thật của ông là Nguyễn Công Hòa, làm chức phó Tổng, nên người ta gọi là Tổng Cóc) nhiều người cho bài thơ này bà làm để khóc chồng, nên suy ra bà là vợ lẽ của Tổng Cóc:

Chàng Cóc ơi, chàng Cóc ơi!
Thiếp bén chuyên chàng có thế thôi!
Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhỉ
Ngàn vàng khôn chuộc dấu bôi vôi.

Văn hóa Tây hay Ta, xưa nay đối với người đã khuất, đều tỏ lòng thương tiếc với sự tôn trọng, nhất là người đó lại là chồng của mình. Chẳng ai vô lễ, làm thơ thương tiếc chồng mà lại xử dụng những tên cúng cơm xấu xí ra miệt thị, diễu cợt chồng đã khuất của mình bằng: “Cóc, nhái ” bén”, “nòng nọc”, chẫu “chuộc”( tức là bêu cả họ nhà Cóc). Xuân Hương thông minh có học, không có lý do gì tự bôi tro trát trấu vào mặt mình. Theo lẽ đó, bài này không phải do bà viết.
Người ta cũng đồ đoán bà làm lẽ ông Phủ Vĩnh Tường, vì dân gian có bài thơ: Khóc ông Phủ Vĩnh Tường, nên thiên hạ vơ luôn ông này vào làm chồng của bà:
_Trăm năm ông Phủ Vĩnh Tường ơi
Cái nợ ba sinh đã trả rồi
Chôn chặt văn chương ba thước đất
Tung hê hồ thỉ bốn phương trời…

Đây chỉ là một bài thơ khóc ông quan Tri phủ Vĩnh Tường, phủ Vĩnh Tường trước đó được gọi là huyện Tam Đái, mãi đến năm Minh Mệnh thứ 3 (1822) mới đổi thành phủ Vĩnh Tường, thời gian này, bà hoặc đã quá lớn tuổi hoặc là đã mất, không thể làm lẽ của bất cứ ông tri phủ nào của phủ Vĩnh Tường được.
Trong cuốn Quốc sử Di biên được viết vào khoảng 1851 (đời Tự Đức) của thám hoa Phan Thúc Trực; Ông này sinh dưới thời Gia Long 1808 mất năm 1852, mười lần đỗ tú tài nên được gọi là Thám mười, mãi đến cuối đời Thiệu Trị mới ra làm quan (1847). Có đoạn chép câu chuyện xảy ra khoảng năm 1819 ( Kỷ Mão gần cuối đời Gia Long):
_ “Xuân Hương là thiếp của quan Tham hiệp trấn Yên Quảng Trần phúc Hiển. Bà Xuân Hương vốn giỏi văn chương và chánh sự nên người đương thời khen là nữ tài tử. Quan Tham hiệp thường sai Xuân Hương can dự vào những việc bên ngoài, thủ hạ đem lòng thù ghét vu cho tội tham nhũng vì thế bị giam(1718) và sau đó bị án tử hình(1819).”
Có người cho rằng, Tham hiệp trấn Quảng Yên Trần Phúc Hiển chết vì bị nghi là vây cánh của Nguyễn Văn Thành và con là Nguyễn văn Thuyên, nên bị thủ hạ của Lê Văn Duyệt kiếm cớ tiêu diệt, vu cho tội tham nhũng.
Có phải Xuân Hương trong đoạn sử mà thám hoa Phan Thúc Trực đã viết ở đoạn trên, đúng là thi sĩ Hồ Xuân Hương chăng? Xưa nay, các nhà khảo cứu vẫn cho là bà mất vào khoảng 1818-1820, có thể nào bà cũng bị xử tử chung với chồng hay không? vì sau đó không có tin tức gì về bà nữa.
Vụ án của cha con Nguyễn văn Thành có dính dáng đến thơ văn, nên chẳng may nếu Xuân Hương và chồng bà, có giao hảo với đám văn nhân người Thanh hoá mà Nguyễn văn Thuyên cho mời vào, họ sẽ bị nằm trong danh sách những người tình nghi có âm mưu làm phản để soán đoạt ngôi vua.

_Đại Nam thực lục chứng rằng: trong khoảng đời Gia Long, Hiệp trấn Sơn Nam Thượng tên là Trần Ngọc Quán (ông là bạn của nữ sĩ, người Nghệ An hay lui tới Cổ Nguyệt Đường, tụ tập làm thơ và có mấy bài xướng họa thơ với Xuân Hương ghi trong Lưu hương ký) trước làm cai bạ ở Quảng Đức (sau đổi là Thừa Thiên). Tháng 2 năm Ất Hợi (1815) được bổ nhậm chức Hiệp trấn Sơn Nam thượng làm quan ở đó 3 năm thì mất (tháng 5 năm Mậu Dần 1818) tức cũng chết vào khoảng thời gian xảy ra vụ án soán đoạt ngôi vua trên.
Sử sách cho ta biết, Nguyễn Văn Thành là một công thần hàng đầu của triều Nguyễn, từng vào sanh ra tử giúp vua Gia Long, ông có ý muốn phù trợ cho con của hoàng tử Cảnh (sau khi từ Pháp về, đã mất vì bệnh đậu mùa năm 1801 khi đang giúp cha trấn giữ thành Gia định) là hoàng tôn Đán lên làm thái tử (tức muốn lập dòng trưởng), nhưng vua Gia Long không bằng lòng, lại nghi ngờ ông có dụng ý lập Đán còn nhỏ tuổi để sau này dễ bề khống chế, chuyên quyền. Con trai của Nguyễn văn Thành là Nguyễn Văn Thuyên, thi đỗ cử nhân, thường hay làm thơ ngâm vịnh và giao du với những văn nhân thi học sĩ thời bấy giờ.
Quốc triều chánh biên chép việc ấy như sau: “Tháng 4, thâu ấn Chưởng trung quân của Nguyễn văn Thành, giam con Thành là Nguyễn văn Thuyên vào ngục. Nguyên có người tỉnh Thanh (Thanh Hóa) là Nguyễn Thương Hiệu làm gia khách Nguyễn văn Thuyên, Thuyên có làm một bài thơ giao cho Hiệu đem ra Thanh (Thanh Hóa) để mời bọn Nguyễn Đức Khuê, thơ rằng:

Văn dạo Ái Châu đa tuấn kiệt
Hư hoài trắc dục cầu ty.
Vô tâm cửu bảo Kinh sơn phác,
Thiện tướng phương tri Ký bắc kỳ.
U cốc hữu hương thiên lý viễn.
Cao cương minh phượng cửu thiên tri
Thử hồi nhược đắc sơn trung tể
Tá ngã kinh luân chuyển hoá ky”.

Nghĩa là:

Đồn rằng châu Ái lắm anh tài
Chiếu trống, lòng riêng những đợi hoài
Ngọc phát non kinh nào giấu mãi
Ngựa kỳ nội ký mấy người hay
Hương thơm hang thẳm, bay ngàn dặm
Phụng đậu gò cao tiếng khắp nơi
Trong núi có ai là tể tướng
Ra tay giúp đỡ chuyển cơ trời

Bài thơ có mấy câu thời đó cho là rất ngông cuồng này, bị các đối thủ (ám chỉ Lê văn Duyệt) vốn ngầm đố kỵ công lao của Thành, vu cho Thuyên âm mưu tạo phản, soán đoạt ngôi vua, giam Thành và mấy người con ở trong trại quân Thị trung. Lê Văn Duyệt khảo tra Thuyên, bắt phải nhận tội phản nghịch. Khi đình thần tra án rồi, Thành nói với Thống chế Hoàng Công Lý rằng: “Án xong rồi, vua khiến tôi phải chết, nếu không chết thời không phải tôi trung”. Liền uống thuốc độc tự tử, còn Thuyên sau đó cũng bị giết (tháng bảy 1817).
Cái tài của Xuân Hương về văn chương, và chánh sự, chồng lại ưa sai Xuân Hương can dự vào những chuyện bên ngoài trong thời điểm nầy thật là nguy hại.

Sự khác biệt giữa người này và người kia, chúng ta có thể nhận định được, qua phong cách cá nhân như tư tưởng, lời nói, văn chương… văn chương là phạm trù đặc biệt, có thể trưng bày biểu hiện tư duy của con người nên qua tác phẩm, người ta có thể đánh giá, nhận định được ý thức về luân lý, xã hội của tác giả, kể cả tâm hồn cùng trình độ văn hóa lẫn nền giáo dục mà người đó đã được đào tạo và hấp thụ. Đối với vài bài thơ chế giễu, nghịch ngợm có thể đã do bà sáng tác lúc còn nhỏ tuổi, được các nhà phê bình xưa nay cho là bà có hơi hám của một phụ nữ có cá tính phóng túng. Nhưng thiết nghĩ Xuân Hương là người học rộng, văn chương tài trí hơn người, bà được chồng ủy nhiệm cho xem xét và xử các vụ kiện tụng của dân chúng (cho dù chỉ đứng sau lưng chồng), tất bà phải tinh thông văn hóa, lễ nghi, đạo nghĩa, không thể là người viết ra được lối văn chương nhảm nhí, phàm phu tục tử, lộ liễu đến độ tục tĩu, mà đem so với lối văn chương của bà trong tập Lưu hương ký, thì một trời cách biệt. Chúng ta hãy đọc thử bài thơ bà viết cho Nguyễn Du trích trong tập này, cùng bài đề vịnh Hạ long (bài này là một trong sáu bài, được tìm thấy in đằng sau cuốn điạ dư cũ của tỉnh Quảng Yên lưu trữ trong thư viện Pháp) văn chương mẫu mực thanh tao, không mảy may giống chút nào với lối văn bình dân ít học của bài quả mít, con ốc nhồi, khóc tổng Cóc chẳng hạn…:

Cảm cựu kiêm trình Cần chánh học sĩ Nguyễn hầu
(Nhớ bạn cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu)(Hầu, Nghi Xuân, Tiên Điền Nhân)
_Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung
Mượn ai tới đấy gửi cho cùng
Chữ tình chốc đã ba năm vẹn
Giấc mộng rồi ra nửa khắc không
Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập
Phấn son càng tủi phận long đong
Biết còn mảy chút sương siu mấy
Lầu Nguyệt năm canh chiếc bóng chong

Đề Vịnh Hạ Long
Độ hoa phong

_Phiến phàm vô cấp độ Hoa Phong
Tiệu bích đan nhai xuất thủy trung
Thủy thế mỗi tùy sơn diện chuyển
Sơn hình tà kháo thủy môn thông
Ngư long tạp xử thu yên bạc
Âu lộ tề phi nhất chiếu hồng
Ngọc động vân phòng tam bách lục
Bất tri thùy thị Thủy tinh cung
Dịch thơ:
Qua vũng hoa phong

_Lá buồm thủng thỉnh vượt Hoa Phong
Đá dựng bờ son mọc giữa dòng
Dáng nước lần theo chân núi chuyển
Mình lèn nghiêng để lối duềnh thông
Cá rồng lẫn nấp hơi thu nhạt
Âu lộ cùng bay bóng xế hồng
Băm sáu phòng mây cùng động ngọc
Đâu nào là chốn thủy tinh cung?

Với những bài mang tính cách dâm thư thô thiển, thiếu nghệ thuật, không thể gọi là tác phẩm văn chương được, nhất là, vô bằng vô chứng lại gán cho một người có học như nữ sĩ Xuân Hương là tác giả, thì phụ nữ chúng ta nên ra sức giúp bà bảo vệ danh giá của người phụ nữ Việt Nam, chớ để mấy ông Đồ gàn học dốt thi trượt, phá phách ngổ ngáo, thiếu suy nghĩ, bỡn cợt trêu ghẹo Xuân Hương, làm bại hoại danh tiết, bôi bát tâm hồn thanh tao khẳng khái của bà. Tuy thi sĩ đã chết rồi, chẳng thể đội mồ sống dậy để biện hộ cãi vã lôi thôi, xét về mặt tâm lý, hãy tưởng tượng Xuân Hương phải đối phó thế nào, khi bà xuất hiện ở những lúc họp mặt văn thơ tao đàn, những buổi đám giỗ của gia tộc, khi mà mọi người nhìn mặt bà thì liên tưởng ngay đến những bài thơ cùng hình tượng của những cái ẩn dụ kia?
Cứ xem mấy bài tả cảnh, chỉ khéo léo mượn cớ tả cảnh đẹp thiên nhiên, tâm ý chỉ để mô tả bộ phận sinh dục, hoặc những tác động tình dục, như bài Hang cắc cớ, hang Thánh Hoá. Động Hương Tích, Đèo Ba Dội (còn gọi là đèo Tam Điệp giáp giới Thanh Hoá và Ninh Bình), Đá ông chồng bà chồng…

_Khéo léo bày trò tạo hóa công
Ông chồng đã vậy lại bà chồng
Từng trên tuyết điểm phơ đầu bạc
Thớt dưới sương pha đượm má hồng
Gan nghĩa dãi ra cùng tuế nguyệt
Khối tình cọ mãi với non sông (Đá ông chồng bà chồng)

_Một đèo, một đèo, lại một đèo
Khen ai khéo tạc cảnh cheo leo
Cửa son đỏ lét tùm hum nóc,
Hòn đá xanh rì lún phún rêu.
Lắt lẻo cành thông cơn gió thốc
Đầm đìa lá liễu hạt sương gieo
Hiền nhân quân tử ai là chẳng
Mỏi gối chồn chân vẫn muốn trèo (Đèo Ba Dội)



Bài Đèo Ba Dội này, John Balaban một thi sĩ Mỹ nổi tiếng và là giáo sư ngành văn học Anh- Mỹ của North Caroline university, từng sống ở Việt Nam, nói và đọc được tiếng Việt. Ông John Balaban đã dịch thơ của Xuân Hương sang tiếng Anh và cho xuất bản cuốn Spring Essence: The Poem of Ho Xuan Huong (xuất bản tháng 10/2000) bán rất chạy tại Hoa Kỳ. Khi được chương trình Fresh air của đài phát thanh NPR (Hoa Kỳ) phỏng vấn, Ông John Balaban nói rằng, xin được tạm dịch: ”vì Xuân Hương thường làm thơ hai nghĩa nên câu đầu của bài Đèo Ba Dội, nếu thay dấu sắc vào chữ ” đèo “ thì sẽ có nghĩa là “to have sex” và đó là ý Xuân Hương muốn nói đến”.
Tuy cách thêm thắt dấu vào chữ nghĩa của ông, làm cho nhiều người Việt giật bắn cả mình, nhưng nó chứng minh cho thấy, ông nhạy bén về chuyện sex hơn các nam văn nhân Việt Nam nhiều, và bạo dạn hơn khi cứ tự nhiên mà nói đến chữ ấy, vì tìm trong tất cả bài bình giảng thơ cho là của Xuân Hương, xưa nay không thấy bất cứ ai đề nghị đề cập đến cách thêm dấu như thế, vì nó làm cho chữ ấy, lộ liễu quá sức mình. Người Việt đa số thích vòng vo tam quốc, ”nói cái nọ, dọ cái kia” ”úp úp mở mở”, chứ không nói huỵch toẹt thẳng thừng như người Mỹ. Mấy trò chơi chữ nói lái như trong bài Chùa Quán sứ, Sư hoang dâm…cũng là trò tinh quái của mấy ông bình dân học vụ, chứ người phụ nữ Việt không trâng tráo cỡ đó, nhất là Xuân Hương, người biết đặt tên cho nhà của mình là Cổ Nguyệt đình, tên văn hoa đẹp đẽ như vậy, ngôi nhà khó có thể là chỗ ngồi đọc và sáng tác những loại văn chương nhảm nhí đến thế.

_Quán Sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo?
Chày kình tiểu để suông không đấm
Tràng hạt vãi lần đếm lại đeo (Chùa Quán Sứ)

_Cái kiếp tu hành nặng đá đeo
Vị gì một chút tẻo tèo teo
Thuyền từ cũng muốn về Tây trúc
Trái gió cho nên phải lộn lèo (Sư hoang dâm)

Có người cho rằng, bà phản kháng sự thối nát của xã hội trong đó có cả tôn giáo, khi dè bỉu một vài nhà sư không giữ giới luật. Nhưng những câu nói lái tục tĩu như vậy, tự bản thân nó cũng đã là một thói xấu xa thối nát của xã hội rồi, nhất là xuất phát từ cái tâm, từ trái tim của một người phụ nữ, nên cái lý luận kia cũng không chấp nhận được. Nguyễn Du nói: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” Người có cái tâm tối hù như vậy, hẳn không thể là bạn của cụ được.
Cũng có người cho rằng: bà dùng cách vẽ vời tồng ngồng tô hô trong thi văn của mình, để bẻ gãy khuôn khổ chật hẹp gò bó của lễ nghi phong tục, là hình thức để bà thực hiện và tranh đấu cho quyền tự do và bình đẳng của phụ nữ, chống đối lại sự đàn áp thống trị của đàn ông và gia quyền, đả kích sự đạo đức giả của tầng lớp trưởng giả, và đồng thời cũng chính là cách bà tranh đấu cho quyền được hưởng hạnh phúc ái ân của chính mình.
Thiết nghĩ: những bài thơ nham nhở thô bỉ, chỉ gặt hái được sự miệt thị, khinh thường của người đọc người nghe, chứ chẳng thể làm gì hũu ích để tích cực góp phần xây dựng cải tạo được xã hội, đừng nói chi đến việc tranh đấu cho người này, hay tranh đấu cho ý thức nọ.

Bích Hà
28/5/05