MÙA XUÂN TRÊN THÀNH PHỐ CŨ TÙY BÚT


MÙA XUÂN VÀ THÀNH PHỐ CŨ




Thưở ấy thanh bình lắm, tuy còn bé tí, nhưng tôi cũng cảm nhận được cái đẹp êm đềm thơ mộng của đất thần kinh. Huế với những con đường im vắng, hiền hòa, có những hàng cây lá xanh mướt phủ bóng nắng, gió lướt thướt trôi những áng mây che ngang dãy núi trùng điệp, xa mờ. Dòng sông Hương lượn quanh, nước trong vắt lóng lánh, phản chiếu những tia sáng mặt trời, đang nhảy múa giỡn đùa với làn gió chiều mát mẻ. Con sông này, khi tôi lớn, thỉnh thoảng qua bến đò Tòa Khâm, để đi chợ Ðông Ba, tôi vẫn thường nghiêng mình, soi gương mặt mình dưới làn nước, say mê ngắm nhìn không biết bao nhiêu loại tảo mộc, lung lay, dật dờ uốn mình dưới đáy sông trông rất ngoạn mục.

Xóm tôi ở, có mấy chị lớn học trường Ðồng Khánh, thấy bọn trẻ nhỏ dễ thương, thường dạy chúng tôi múa hát, dạy xếp những chiếc lồng đèn Trung thu đầy màu sắc xinh xắn bằng giấy pơluya, được thắp sáng bằng thứ ánh sáng đèn cầy lung linh huyền hoặc, mơ ảo, rồi cắt những giấy xanh đỏ thành những dây trang trí đẹp đẽ giăng đầy phòng, để đón Tết Trung thu. Mấy chị ra sức tập dượt cho bọn tôi, để đến Tết Trung thu, bọn tôi múa hát biểu diễn cho các anh chị, các bậc cha mẹ trong xóm xem.

Ngày thừơng, chúng tôi lang thang rong chơi trong xóm, qua nhà bà đại tá Ð. leo tận lên sân thượng, chơi thả diều với lũ con của bà. Hoặc chạy qua nhà thầy P. tẩn mẩn nghịch những hình nộm làm bằng bìa cạc tông, có dây buộc đằng sau lưng, khi dật dây, tay chân của chúng, có thể cử động lên xuống được , nom ngộ nghĩnh hết sức. Thầy P. là giáo sư, dạy trường trung học Kiểu Mẫu. Ngoài giờ dạy học, ông còn viết thêm nhiều sách khảo cứu song ngữ, có cuốn viết về địa danh xứ Huế, in kèm nhiều ảnh danh lam thắng cảnh, sông nước hữu tình của đất thần kinh. Sau này khi đã biết đọc, tôi thường qua đây, đọc ngốn ngấu không biết bao nhiêu là sách báo đủ loại, mà các con của thầy, chẳng để mắt tới. Vợ thầy là 1 người rất đẹp, có thể liệt vào hạng thiên hương quốc sắc; Kỳ ngoại hầu Cường Ðể, là ông nội của bà, nên nơi bà ngoài vẻ đẹp kiêu kỳ, ảnh hưởng của giòng máu vua chúa vẫn còn đâu đó trong vẻ cư xử kiểu cách, ăn mặc đài các trịnh trọng của bà.

Tôi thường tò mò đứng quanh quẩn, xem bà trang điểm bới tóc phồng cao sau gáy, ướm thử các món nữ trang khác nhau, cài lên tóc chiếc trâm, hoặc lựa đeo đôi bông tai nào đó, phù hợp với màu áo bà định chọn để mặc. Tuy còn bé tí, tôi cũng nhận biết gương mặt của bà rất khả ái, xinh xắn, áo quần rất mode. Tôi không những chơi với con bà, mà còn chơi với con của Thầy T. ở sát cạnh nhà bà nữa. Thầy T. là y tá ngành quang tuyến, làm việc cho bịnh viện Huế. Vợ thầy T. cũng rất đẹp, họ có 5 con, 3 đứa con gái, 2 chị lớn đang ở tuổi đôi tám, học Ðồng Khánh, xinh đẹp lắm, mũi cao, mắt to tròn đen láy. Tôi thường đứng trong phòng, xem 2 chị thay đồ, bộ ngực no tròn xinh xắn, tha thướt yểu điệu trong bộ áo dài trắng. Còn con Bé, bạn tôi, là cô em út của họ, nước da hơi ngăm ngăm, xấp xỉ lớn hơn tôi 1 tuổi. So với tôi, chắc nó cũng không đẹp hơn tôi gì cho lắm, vì mỗi lần bạn của 2 chị đến nhà chơi, tôi thường được bạn của các chị dành nhau nựng là :" con bé xinh quá hỉ !" Tuy từ xưa đến bây giờ, tôi luôn luôn hoài nghi về nhan sắc của mình, nhưng cái câu này, chắc tôi phải ghi nhớ vào ký ức của mình suốt đời, đặng trích dẫn những khi cần đến, cũng đỡ tủi !!

Bọn tôi, thường mặc quần banh sơ lây, giống y như 1 quần sì líp luồn dây thun, phồng lên ở ngang háng, trơ đôi chân bé xíu khẳng khiu đen đúa, chạy lông rông khắp ngõ.
Vui nhất là buổi trưa, xóm nhỏ quạnh quẽ, mọi người bận ngủ trưa, bọn tôi len lén trèo ra cửa sổ, chạy bương ra cánh đồng đằng sau ngân hàng phát triển nông nghiệp. Nơi đây, mặc kệ phố thị xe cộ qua lại, mặc kệ ty này, sở nọ bao quanh, vẫn có 1 khoảng ruộng cò bay thẳng cánh, lúa xanh rì mơn mởn, kéo dài xa tắp tận chân trời, đến mãi tận bến xe của chợ An cựu, Gió hây hây làm đám lúa ngó xa xa, lay động nhấp nhô như triền sóng lượn.
Tôi hăng hái, bương bả lội xuống ruộng, vớt những con cá mặt trăng trong vắt bé tí xíu, và hàng chục con cá óc nóc về nuôi, có khi thì bứt lúa non về rang trong chảo đựng đầy cát , báo hại mấy chủ ruộng rượt chúng tôi chạy có cờ, còn dọa tìm đến nhà mách bố mẹ, làm chúng tôi sợ xanh mặt phải ra trốn mãi đằng sau vườn nhà thầy P. cho đến chiều tối, chẳng thấy có ai tới trách mắng, mới dám bò về nhà.
Trước sân nhà tôi, có cây vông vang, gốc to cỡ người ôm, một hôm nọ, trái đạn pháo kích bỗng dưng rơi lạc, mảnh đạn văng đâu đó, ghim vài chỗ trên thân cây. Không biết tin tức ở đâu đưa đi, thiên hạ tò mò, lục đục kéo tới xem, từ sáng cho đến tối, đông không biết bao nhiêu là người, ai nấy đều ngẩn người ngắm nghía, sờ mó, khám nghiệm những vết đạn nhỏ to lỗ chỗ ghim trên thân cây, y như đang khám phá một kỳ tích ngàn năm mới có, vì Huế đang buổi thanh bình, rất hiếm khi có dịp được nhìn thấy những vết tích của súng đạn.
Thế rồi, thành phố sau đó cứ thỉnh thoảng bị pháo kích luôn. Ông đại tá S. ở trước ngõ nhà tôi, dành nguyên dãy lầu của gia đình ông, cho người Mỹ thuê, làm căn cứ. Các cậu lính Mỹ trẻ măng, da trắng có, đen có, lục đục dọn đến đó ở. Có mấy anh lính đen chũi như nhọ nồi, môi dày cộm, răng trắng toát, thoạt đầu hay làm chúng tôi sợ phát thét lên, chạy vắt giò lên cổ mỗi khi đi ngang . Dần dà, nhìn hoài chúng tôi cũng quen. Có lẽ nhớ gia đình, nên họ thường hay lân la cho chúng tôi đủ thứ kẹo bánh và tỏ ý muốn bế, thế là lãnh phần xong, chúng tôi bèn trốn biệt.
Ngôi biệt thự, trở thành căn cứ quân sự Mỹ, hàng rào kẽm gai giăng kín chung quanh, cả trên đầu tường cao, bao cát chất lớp như bức bình phong, che ngang lối cửa chính ra vào.



Cả xóm tôi cũng bắt đầu lăng xăng xây hầm trú ẩn. Thầy giáo sư T. ở sát vách nhà tôi, xây 1 cái hầm rất lớn kiên cố, rộng rãi, cao gần sát trần nhà. Vợ chồng Thầy đều đi dạy. Nhà của thầy đẹp, rộng lớn y như căn biệt thự, có mấy phòng trống, cho người Ðại hàn thuê, thầy dành riêng 1 phòng lớn để làm hầm trú ẩn cho cả nhà. Cha tôi cũng lật đật mua ngoài chợ về thật nhiều bao, dệt bằng ny lông hoặc bằng vải bố thô, màu xanh cứt ngựa, rồi mua cát về, thuê người xúc vào bao. Cha tôi sợ đạn pháo lạc vào nhà, để tránh mảnh đạn, ông bê một cái bàn gỗ lớn, mà gia đình tôi thường dùng làm bàn ăn cơm, kê sát vào vách tường của 1 phòng trống, chỗ chúng tôi chơi đùa, kê thêm vài xà gỗ, rồi chất bao cát chung quanh làm hầm trú ẩn. Kiểu hầm này, chỉ tránh được miểng đạn, chớ nói vô phước, nếu có 1 trái đạn rớt trúng, thì cả nhà chúng tôi sẽ khó bảo toàn được tánh mạng.
Mà lúc ấy, chỉ thỉnh thoảng, thành phố mới bị pháo kích. Ban đêm đương ngủ, hễ nghe tiếng đại bác dội vang gần gũi đâu đó, mẹ tôi mới khẽ đánh thức chúng tôi dậy, đẩy chúng tôi vào hầm ngồi, chốc lát thấy yên, bà lại kêu chúng tôi, leo lên giường ngủ tiếp.
Khu vực chúng tôi ở, toàn là nha, sở của chính phủ,cùng doanh trại của cảnh sát và quân đội, ngay chính giữa thành phố xinh đẹp sầm uất, đông dân cư và trường học. Ðó chắc chắn là, mục tiêu của những trái đạn vô tội vạ kia, nhắm bắn từ những dãy núi tím sẫm xa xôi, mờ mây phủ, mà tôi thường đứng ngắm bóng nắng, xuyên qua từng đám mây, chuyển màu đậm nhạt, lan nhanh từ chỗ này sang chỗ khác trên dãy núi
Rồi cái Tết khủng khiếp ấy đến, đó là năm Mậu thân, sau khi đón giao thừa xong, cả nhà đang ngủ say, tiếng đạn pháo rầm rầm bắn liên tục vào thành phố, đã đánh thức chúng tôi dậy. Cha tôi bị lệnh cắm trại không về được, ấy cũng là điều rất may mắn, vì nếu ông có mặt ở Huế, chắc đã bị bắt và bị chôn sống không chừng.
Mấy lần trước bị pháo kích, chúng tôi chỉ nghe tiếng đạn nổ xa xa, và pháo chỉ mươi trái là im tiếng, trả lại yên tĩnh cho dân cư của thành phố đi ngủ tiếp. Nhưng đêm nay, chờ rất lâu, mà đạn pháo vẫn ầm ầm vang dội, rơi xuống không ngừng nghỉ, răng của chúng tôi, bắt đầu đánh vào nhau, phát ra những tiếng kêu lập cập, một cách rất tự nhiên, không cách nào kìm hãm khống chế, cho nó ngừng lại được. Trong bóng tối heo hắt, tờ mờ của bóng đèn điện nhỏ xíu, được cha tôi bắc trên nóc của góc hầm, mấy mẹ con tôi lặng yên nín thở, ngồi nép sát vào nhau run lẩy bẩy.
Cả giờ sau, tiếng đạn vẫn ầm ĩ rơi đều như thế, chúng tôi hình như nghe mãi cũng quen nên bớt sợ, răng không còn va lập cập vào nhau nữa, thì bỗng đâu có tiếng nổ long trời lở đất, lớn khủng khiếp, khiến tai tôi ù hẳn đi, ngực bị nén chặt, không thở được, cả căn hầm dường như bị rung chuyển, lung lay, xê dịch đi. Hàng ngàn mảnh bê tông cốt sắt, đồ đạc vụn vặt của nhà bên cạnh, bị hất tung lên cao, rơi ào ào lên mái nhà tôi, làm sụp luôn cả mái ngói của căn nhà sau, kế nhà bếp, nơi cha tôi thường nuôi gia súc chim chóc, và chỉ cách hầm trú ẩn, của mấy mẹ con tôi vài gang tấc. Chúng tôi đã may mắn thoát chết như một phép lạ, nhưng ngôi nhà bên cạnh của thầy giáo sư T. trong khoảnh khắc, đã trở thành đống gạch vụn.

Mãi đến trưa hôm sau, tiếng súng hơi thưa thớt dần, cả xóm ai nấy vẫn còn sợ hãi, núp kín trong hầm. Anh tôi, là thằng bé nghịch ngợm nhất xóm, táy máy vô cùng, ở mãi trong hầm, anh đâm ra ngứa ngáy chân tay, bèn lẻn ra ngoài đường để đi lượm vỏ đạn. Anh vốn thích nhặt nhạnh, lượm lặt mấy viên đạn cũ, mới, gỡ đầu đạn hơ lên bếp, đổ chất chì nóng ra, đem đi cất. Nghe mẹ tôi kể, hồi nhỏ anh cũng đã có lần suýt chết vì nghịch vỏ đạn, tưởng anh sợ sẽ chừa, nhưng đâu cũng vào đó. Trời sinh ra anh thông minh, mặt mày sáng láng, trông cũng đẹp trai ra phết, nhưng nghịch ngợm, phá phách hơn quỉ sứ, hồi đó, anh còn hay dành đồ chơi và ăn hiếp tôi nữa chứ !

Trưa đó, anh đi ngang đống gạch vụn, nghe có tiếng người dưới đống gạch ấy yếu ớt kêu réo, khiến anh biết là vẫn có người còn sống, đang bị vùi dưới hàng tấn gạch đá, bê tông cốt sắt của căn nhà và căn hầm quá kiên cố ấy. Ðó là tiếng của Thầy T. thầy nhờ anh đi kêu hàng xóm đến giúp đỡ. Mọi người trong xóm nghe anh tôi đến kêu cứu, lục đục chui ra khỏi hầm, tụ tập nhau bàn tán, rồi bắt tay khiêng gỡ dần dà, đến chiều, mới moi hết được tất cả những người bị chôn dưới đống gạch ấy lên.
Phía bên kia đường, trong ngôi nhà dùng làm căn cứ của người Mỹ, lố nhố mấy chục mũi súng thép lạnh ngắt, thò ra phía ngoài bao cát, những đôi mắt dò xét, xa lạ, vẫn cứ đăm đăm, lặng yên tử thủ trong lô cốt của họ. Năm xác người chết, được đưa ra khỏi hầm để trước mặt sân nhà tôi, cả tháng sau mới được mai táng, còn cả nhà thầy T. số người còn sống sót, đều bị thương, được chuyển ra ngoài tàu hạm đội của Mỹ để cứu chữa.

Cả xóm tôi sau đó phần lớn, đều di tản, mỗi gia đình dọn đi nhiều tỉnh khác nhau, người vào Ðà nẵng, kẻ vào Sài gòn.

Tết năm đó, bom đạn để lại không biết bao nhiêu vết tích tang thương, đổ nát cho thành phố Huế. Người chết vì bom đạn đã đành, hàng ngàn người còn bị chôn sống trong nhiều ngôi mộ tập thể nữa. Tôi nghĩ, người dân Huế vốn hiền hòa, an phận, lệnh giết người hung hãn dã man như thế, tôi chắc không thể nào xuất phát từ tâm địa của một người Huế được.
Tết năm đó, tôi mất rất nhiều bạn, xóm nhỏ không còn như xưa, thành phố Huế vắng vẻ, thanh tịnh nay nhộn nhịp hẳn, với hàng đoàn xe thiết giáp, công voa, không ngớt nối đuôi nhau chuyển vận súng đạn, nhu liệu, binh lính vào các căn cứ xung quanh thành phố. Ðêm đêm, vẻ tĩnh mịch thanh vắng của thành phố, được thay thế bằng tiếng ầm ì, xa gần, lớn nhỏ của hàng tấn bom đạn, dội xuống không ngừng, vang vọng lại từ các dãy núi trùng điệp xa xăm, bao quanh thành phố. Những tiếng hỏa châu bắn bì bụp, lơ lửng những chiếc dù nhỏ, bay liệng chao đảo theo gió, qua lại trong không gian, thay thế ánh sáng lung linh huyền ảo của những chiếc đèn Trung thu thơ mộng, đầy màu sắc trong tâm trí tôi, bằng thứ ánh sáng rực rỡ, đột ngột chiếu rõ một khoảng trời đêm, đầy trắc trở đe dọa, rồi vụt chưng hửng, im lìm tắt ngấm trong đêm tối mù mịt.
Bây giờ, mỗi lần nghe hát câu:
" Ðại bác đêm đêm dội về thành phố " hay: " Chiều đi lên bãi dâu, hát trên những xác người " tim tôi lại se thắt, thấm thía vô cùng, cái cảnh tượng chiến tranh, đầy bất hạnh, mất mát đau thương, thống khổ, đè nặng trên kiếp sống con người Việt Nam trong đó có tôi, người từng thoát chết trong gang tấc, và từng nếm mùi bom đạn bay như mưa qua đầu ngay từ lúc còn rất nhỏ.


Bích hà ( 20/11/02)